Bỏ qua Nội dung

Chuyển đổi số trong nhà máy Unilever

Machine learning và big data trong vận hành nhà máy

Tiếp nối quá trình tự động hóa thông minh và robot hóa trong hoạt động sản xuất tại nhà máy, Unilever Việt Nam đang từng bước áp dụng hoàn toàn máy học và dữ liệu lớn, hướng đến mục tiêu tự động hóa thông minh hoàn toàn đến năm 2024.

Từ những viên gạch đầu tiên

Hai cụm nhà máy tại Bắc Ninh và Củ Chi của Unilever Việt Nam đã xây dựng và tiến hành thực hiện lộ trình hiện đại hóa, chuyển đổi số từ năm 2018, hướng đến mục tiêu năm 2024.

Ở giai đoạn đầu từ 2018 – 2019, các nhà máy đã tiến hành chuyển đổi từ hoạt động vận hành sản xuất thủ công chủ yếu dựa trên sức người và quản lý dữ liệu rời rạc sang tự động hóa thông minh và sử dụng robot trong nhà máy, đồng thời áp dụng các công cụ quản lý công việc số hóa cơ bản để thu thập và khắc họa dữ liệu, đặt nền móng cho việc áp dụng các tiến bộ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào nhà máy để nâng cao năng lực.

Trong giai đoạn kế tiếp từ năm 2020 – 2021, mặc cho dịch bệnh đã gây ra nhiều thử thách cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh, các nhà máy Unilever Việt Nam vẫn nỗ lực để tiếp tục thúc đẩy quá trình tự động hóa thông minh và robot hóa trong hoạt động sản xuất, phục vụ cho công tác đóng gói và vận chuyển sản phẩm vào cuối năm 2021.

Đồng thời, quá trình quản lý và sử dụng dữ liệu cũng được nâng cấp với hệ thống kết nối vạn vật (IoT – Internet of Things), trí tuệ nhân tạo (AI) thông qua siêu ứng dụng cho phép tất cả nhân viên và quản lý tại nhà máy có thể tương tác, theo dõi quá trình hoạt động và hiệu suất, cũng như phát hiện và phân tích các tổn thất xảy ra với tất cả thiết bị trong nhà máy phục vụ quá trình sản xuất sản phẩm.

Đồng thời ghi nhận và đồng bộ hóa tất cả các phản hồi và thông tin về một hệ thống AI để phân tích và xử lý dữ liệu kịp thời. Đây cũng là giai đoạn đặt nền tảng và thúc đẩy quá trình phân tích dữ liệu và dự báo, từ đó cải thiện hơn nữa hiệu suất vận hành và đón đầu xu hướng tương lai.

Đến nay, trong giai đoạn năm 2022 – 2024, nhà máy của Unilever Việt Nam đang từng bước áp dụng hoàn toàn máy học (machine learning) và dữ liệu lớn (big data) vào hoạt động sản xuất, vận hành của nhà máy, hướng đến đạt 100% mục tiêu tự động hóa thông minh đến năm 2024.

Đến những kết quả tích cực

Quá trình số hóa trong nhà máy của Unilever Việt Nam đã mang lại sự hiệu quả, đổi mới và nâng cao vị thế cho doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kỹ năng số hóa, công nghệ cho đội ngũ nhân sự tại đây.

Các giải pháp tự động hóa thông minh, việc sử dụng robot, máy học...đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc độ đổi mới, tối ưu hóa quá trình sản xuất, cụ thể nhà máy Củ Chi và Bắc Ninh đã tăng hiệu suất lao đông và tốc độ cung cấp tất cả sản phẩm từ các nhãn hàng. Điều này góp phần đáp ứng nhanh hơn với sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của Unilever trên thị trường.

Bên cạnh đó, quá trình áp dụng công nghệ và số hóa tại nhà máy của Unilever Việt Nam cũng mở ra cơ hội học tập và phát triển kỹ năng chuyển đổi số cho toàn bộ nhân viên, từ các hoạt động vận hành thô sơ chuyển sang sử dụng robot và tiến xa hơn là có thể phân tích dữ liệu và tự thiết kế hệ thống tự động hóa cũng như lập trình các thuật toán...

Nhân sự tại nhà máy Unilever được trang bị và ứng dụng kỹ năng áp dụng công nghệ và đổi mới

Đến nay, nhà máy Củ Chi và Bắc Ninh đang sở hữu đội ngũ kỹ sư IoT và dữ liệu, 100% nhân viên đã được huấn luyện và hoàn toàn thuần thục trong việc vận hành quy trình tự động hóa trong nhà máy. Trải qua 4 năm được đào tạo và áp dụng thực tế, đội ngũ kỹ sư tại nhà máy đã có thể tự thiết kế, lập trình cho các hệ thống tự động thông minh mới và 100% nhân viên kỹ thuật có năng lực bảo trì bảo dưỡng cho các hệ thống hiện hữu.

Đồng thời, sức mạnh của công nghệ còn ở những tác động tích cực đến môi trường. Với việc áp dụng khoa học – công nghệ, các nhà máy của Unilever Việt Nam đã tiên phong chuyển đổi sử dụng năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo, đảm bảo cam kết sử dụng nhiên liệu sạch trong sản xuất bằng việc thay thế bằng các nguồn nhiên liệu sinh khối, sử dụng điện năng lượng mặt trời, không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, giảm thiểu phát thải CO2 tạo hiệu ứng nhà kính.